Tìm cách xưng hô bình đẳng cho người Việt

doithoai_xungho“…Với khả năng nhận xét tinh tế của người Việt, tôi nghĩ rằng chúng ta có nhiều triển vọng thoát ra được tâm lý phân chia cấp bậc, yếm thế từ văn hóa truyền thống để thích nghĩ với một thế giới bình đẳng dân chủ…”

Hầu hết người Việt chúng ta ai cũng không ít lần gặp rắc rối trong những tình huống dở khóc dở cười, hoặc bối rối gặp trở ngại khi phải xưng hô trong giao tiếp. Trong đời sống xã hội đã vậy, trong gia đình họ hàng dòng tộc còn phức tạp rối rắm hơn rất nhiều.

Chỉ với ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai thôi nếu như các dân tộc khác trên thế giới (kể cả 1 số tộc người thiểu số Việt Nam) cũng chỉ là đơn giản là: mày – tao, I – you (tiếng Anh), ủa (ngộ) – nỉ (nị) (Trung Quốc) thì trong tiếng Việt cặp đại từ tao (tau) – mày (mi) chỉ hạn chế sử dụng trong mối quan hệ bạn bè ngang hàng phải lứa hoặc thể hiện sự gần gũi thân mật. Còn lại thực tế, cách xưng hô tùy theo tuổi tác, hoàn cảnh, chức vụ, vai vế, ngôi vị, đẳng cấp để phân biệt trên dưới đã làm nảy sinh vô vàn cách gọi khác nhau, nhưng có lẽ phổ biến nhất vẫn là xưng, gọi tương đương theo quan hệ gia đình làng xã: anh, chị, cô, cậu, chú, bác, ông, mà tự xưng em, con, cháu… 

Người Việt thường cho lối xưng hô này là cái hay cái đẹp của truyền thống và bảo rằng đó là văn hóa kính trên nhường dưới, bày tỏ vẻ lòng trọng thị, tôn trọng nhau. Cách ứng đáp này phù hợp với một xã hội Khổng Nho thời nông nghiệp, khi con người bị trói buộc bởi tầng bậc địa vị.

Sống trong một thế giới công nghiệp và một xã hội dân chủ, mọi người đều bình đẳng, vai trò cá nhân được tôn trọng lối xưng hô đó không còn phù hợp nữa. Trong giao tiếp ứng xử hằng ngày, nó để lộ ra rất nhiều hạn chế. Ví dụ mỗi khi trao đổi với người vừa mới quen biết lại phải hỏi tuổi để còn gọi, xưng hô hay đúng hơn là phân vai (diễn). Đến khi mẫu thuẫn với nhau mọi sự mới đơn giản một cách trung thực: gọi nhau bằng danh từ mày, tao, thằng, con bất kể tuổi tác, thậm chí còn gắn thêm cả đuôi, nick tục tĩu, bậy bạ để bày tỏ đủ hết cung bậc cảm xúc.

Chính cái cách tỏ vẻ khiêm nhường tôn trọng giả tạo kia đã dẫn đến tâm lý thiếu tự tin, mang nặng não trạng nhược tiểu tự biến mình thành nhỏ bé như con sâu cái kiến, dần dà đánh mất ý thức về vị trí và thế đứng của chính bản thân mình, kéo theo việc đánh mất luôn cái tôi của cá nhân. Trước thế kỷ XVIII trong lịch sử văn chương nước ta còn truyền lại đến ngày nay, tuyệt nhiên không thấy có cái TÔI cụ thể mà chỉ có cái tôi chung chung bằng cách xưng TA. Lý do cũng bởi chúng ta nhiễm bệnh Khổng Nho quá nặng, nặng hơn cả người Tàu khi họ chỉ phân biệt ngôi thứ theo địa vị xã hội gọi nhau theo chức danh kèm tên, họ kiểu như trưởng phòng Kim, giám đốc Tô, hay chủ tịch Tập, vv…

Còn xứ ta cứ đứa nào nhìn thấy mặt trời trước là hơn “phân”, đứa sau phải gọi bằng anh, chị, thằng trên buộc thằng dưới phải tôn trọng. Trật tự trên dưới được tạo ra một sự tuân phục vô điều kiện bằng cách áp đặt trên bảo dưới buộc phải nghe cấm cãi, bất kể trên sai hay đúng, khiến em phải tuân phục anh (chị), con không dám trái lời cha (anh ), trò không dám phản biện thầy (cô), vợ không dám cãi chồng…  Người ở vị thế thấp cứ luồn cúi, hèn hạ mãi đi, còn người bề trên thì sinh thói gia trưởng độc đoán áp đặt, và từ đó xã hội nảy sinh một căn bệnh tâm lý “thượng đội hạ đạp” hay văn hóa “nịnh trên nạt dưới”.  Chính sự bất bình đẳng này hạn chế rất nhiều việc bày tỏ ý kiến, chính kiến, khiến cho xã hội Việt Nam càng trở nên ù lỳ, phản động (theo đúng nghĩa của từ này). Dân thấp cổ bé họng bất lực cam chịu như bầy cừu trước đàn sói dữ.

Trước đây các trí thức thời Pháp thuộc đã tiên phong trong việc thay đổi xưng hô du nhập với những từ như TOA, MOA, …

Tổ chức cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc dùng từ: ĐỒNG CHÍ trong nội bộ mặc dù từ này đã bị tha hóa không còn ý nghĩa và ngày nay xã hội dùng nó với ý diễu cợt nhưng ở các chí bộ cấp cơ sở nó vẫn còn nguyên giá trị trong việc tạo môi trường bình đẳng, dân chủ giữa các “đồng chí”  trong sinh hoạt nội bộ mặc dù bên ngoài với quần chúng họ vẫn đang bóp nghẹt dân chủ.

Một số tổ chức, đảng phái đã dùng cụm từ CHIẾN HỮU hay CHÍ HỮU thay thế cho cụm từ Đồng Chí mong đem lại không khí dân chủ nhất định.

Để hạn chế tính áp đặt đồng thời tạo thế đứng cho sinh viên và xây dựng được môi trường bình đẳng trong học thuật, trường Đại Học Phan Chu Trinh đã áp dụng phương cách sinh viên xưng TÔI với các giáo sư, thầy giáo. Đây là một sáng kiến hay, tiếc rằng mô hình này không được nhân rộng.

Thời sinh viên lứa chúng tôi cũng có thời gian gọi BẠN xưng TÔI thậm chí có lúc lại xưng tôi là bạn.

Hay như gần đây tụi trẻ  tuổi “teen” thường gọi nhau bằng ÔNG, BÀ xưng TÔI nghe cũng vui tai và thấy hợp lý.

Nếu muốn xã hội đổi thay chúng ta phải thay đổi từ cái gốc tâm lý văn hóa dân tộc kể cả từ cái nhỏ nhất trong ứng xử mới có cơ hội tiến dần xã hội văn minh hay dân chủ ở đó nhân phẩm của ai cũng được tôn trọng một cách bình đẳng.

Với khả năng nhận xét tinh tế của người Việt, tôi nghĩ rằng chúng ta có nhiều triển vọng thoát ra được tâm lý phân chia cấp bậc, yếm thế từ văn hóa cổ hủ để thích nghĩ với một thế giới bình đẳng dân chủ. Chúng ta cần phải đầu tư suy nghĩ và đẩy mạnh cuộc cách mạng thay đổi về tâm lý và văn hóa. Chúng ta có thể bắt đầu bằng những việc tưởng chừng như đơn giản như thay đổi cách xưng hô bằng cách tạo ra những đại từ mới phổ biến, thuận tiện, phù hợp với người Việt hiện đại.

Nguyễn Việt Hưng

This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s