Thua kiện ‘đường lưỡi bò,’ Trung Quốc ‘tiến thoái lưỡng nan’

Ba câu hỏi đang được bàn cãi trong dư luận người Việt sau phán quyết ngày 12 tháng 7 của Tòa Trọng Tài ở Hòa Lan là: 1) Phán quyết có giá trị gì nếu Trung Quốc không tuân hành, tiếp tục phủ nhận và chống đối như họ đã nói? 2) Phán quyết này lợi hại cho Việt Nam như thế nào? 3) Việt Nam có nên kiện để đòi lại các đảo Trung Quốc đã chiếm ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không?

***

Người dân Philippines biểu tình đòi đuổi Trung Quốc ra khỏi vùng biển của họ. (Hình: Getty Images)

Phán quyết 12 tháng 7 có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với hai bên tranh chấp, Philippines và Trung Quốc, mà còn là một án lệ có hiệu lực cho toàn thể các quốc gia liên quan đến Biển Ðông.

Sự kiện này chứng minh việc dùng quyền tài phán để giải quyết hòa bình những tranh chấp là một đường lối hoàn toàn khả thi và đem đến kết quả tích cực. Cùng với phán quyết về thẩm quyền hồi tháng 10, 2015, nhiều luận điểm Trung Quốc vẫn viện dẫn để tránh né khả năng áp dụng các biện pháp tài phán cho vấn đề Biển Ðông, đã bị bác bỏ.

Tuy vậy nên hiểu rõ là kết luận của Tòa Trọng Tài có một giá trị giới hạn, hơn nữa Tòa Trọng Tài không có thẩm quyền xác định, mà cũng không giải quyết vấn đề chủ quyền. Tòa chỉ căn cứ vào Công Ước Liên Hiệp Quốc 1986 (UNCLOS) để giải thích về việc áp dụng đúng hay sai, về những vi phạm, hoặc về hành động thiếu bổn phận trách nhiệm của một nước thành viên đã ký kết.

Theo quy định của UNCLOS, phán quyết của một cơ quan tài phán được thành lập theo công ước, ở đây là Tòa Trọng Tài Thường Trực, có giá trị ràng buộc. Do đó dù tuyên bố không chấp nhận, nhưng với tính cách là một nước thành viên ký kết công ước, Trung Quốc đương nhiên có nghĩa vụ buộc phải thi hành.

Thế giới không có một cơ chế nào đủ quyền uy để bắt buộc các quốc gia thi hành đúng những luật lệ và quy định quốc tế. Nhưng thực tế lịch sử cho thấy khi giải quyết tranh chấp theo con đường tài phán, rất hiếm có quốc gia nào chống đối hoàn toàn và mãi mãi phán quyết của một tòa quốc tế. Về lâu về dài, thái độ ấy sẽ bất lợi cho quốc gia nhất là nước lớn như Trung Quốc có rất nhiều mối quan hệ quốc tế. Vì thế Trung Quốc có thể không tuân thủ ngay phán quyết của Tòa Trọng Tài, nhưng qua thời gian sẽ buộc phải điều chỉnh hành vi thái độ theo hướng phù hợp quan niệm chung của thế giới.

Không thể mong chờ tới một lúc nào Trung Quốc chịu tuyên bố chấp nhận phán quyết, và trước mắt, nước này có thể tiếp tục hay gia tăng những hành động hung hăng khiêu khích. Nhưng rồi sau phản ứng ban đầu ấy, dần dần Trung Quốc sẽ phải lặng lẽ lui bước trong hành động cũng như trong quá trình đàm phán với các nước vùng Biển Ðông.

***

Ðối với Việt Nam và tất cả các nước trong khu vực, phán quyết về Philippines-Trung Quốc đem đến lợi ích quan trọng nhất là việc phủ nhận cái gọi là Ðường Chín Ðoạn hay đường Lưỡi Bò. Tuyên bố đơn phương bất hợp pháp này là sáng tác từ thời Trung Hoa Dân Quốc và tới đầu thiên niên kỷ này nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc mới vin vào đó để tuyên bố chủ quyền của mình trên 85% diện tích Biển Ðông nghĩa là hơn 3 triệu km2 trên tổng số 3.5 triệu km2. Ðường Lưỡi Bò chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines, và vùng biển các nước khác trong đó nhiều nhất là Việt Nam. Toàn thể hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm bên trong Ðường Lưỡi Bò.

PCA khẳng định, “Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi hỏi quyền lịch sử về các nguồn tài nguyên bên trong Ðường Lưỡi Bò.”

Tòa giải thích: “Mặc dầu các nhà hàng hải và ngư dân Trung Quốc trong lịch sử đã từng sử dụng những hòn đảo trên Biển Ðông. Nhưng dân Trung Quốc không phải là duy nhất, những người dân từ các quốc gia khác cũng đã hành dộng như thế. Hơn nữa không hề có chứng cứ gì về việc Trung Quốc đã thực thi về mặt lịch sử sự kiểm soát đặc quyền trên toàn vùng nước hay tài nguyên.”

Như vậy Việt Nam đương nhiên được thụ hưởng lợi ích trong sự phủ nhận Ðường Lưỡi Bò của Tòa Trọng Tài. Ðường Lưỡi Bò không phải là phán quyết duy nhất của tòa PCA, tòa còn giải thích về những quy định trong UNCLOS về đảo, mỏm đá, đá ngầm, về sự cải tạo trái phép các thực thể ấy, xây dựng đảo nhân tạo làm tổn hại đến mội trường và hệ sinh thái thiên nhiên,…

Một số những khiếu kiện khác của Philippines chưa được cứu xét vì ngoài thẩm quyền của tòa hoặc vì còn cần nghiên cứu thêm.

Chính Philippines cũng đã từng tuyên bố rằng xem vụ kiện này chỉ là bước đầu chứ không phải biện pháp cuối cùng để giải quyết toàn bộ tranh chấp Biển Ðông. Nhưng đây đã thành một án lệ quốc tế, chính quyền Việt Nam hiện nay và các chính quyền khác sau này sẽ phải vận dụng khôn ngoan án lệ này trong nỗ lực giải quyết tranh chấp Biển Ðông.

***

Một thắc mắc khác cần đề cập, khi tòa không công nhận quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Ðông thì cũng có nghĩa là không công nhận quyền lịch sử của tất cả các nước trong đó có Việt Nam. Chúng ta vẫn viện dẫn những bằng chứng lịch sử để chứng minh rằng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, vậy nếu những bằng chứng này đủ tính thuyết phục thì có giá trị để đòi chủ quyền hai quần đảo này hay không?”

Ðây là một câu hỏi khó có lời giải đáp, trong nội dung 329 điều khoản và 9 phụ lục của UNCLOS, không có quy định bằng chúng lịch sử là một yếu tố để xác định chủ quyền. UNCLOS chỉ là công cụ để cộng đồng quốc tế duy trì trật tự, thượng tôn pháp luật trên biển, thiết lập quy định sử dụng đại dương và nguồn tài nguyên, ngăn chặn tham vọng chiếm đoạt chủ quyền bất hợp pháp.

Tòa Trọng Tài không có thẩm quyền giải quyết vấn đề chủ quyền biển đảo. Philippines không đưa vấn đề này ra tòa mà chỉ xin tòa “bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về toàn bộ vùng nước trên Biển Dông” trong phạm vi cái gọi là Ðường Chín Ðoạn dựa trên “quyền lịch sử.” Tất cả nội dung phán quyết 12 tháng 7 không vượt quá giới hạn thẩm quyền của Tòa Trọng Tài và không đi ra ngoài UNCLOS.

UNCLOS đã quy định một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở gọi là “Vùng Ðặc Quyền Kinh Tế” (EEZ = Exclusive Economic Zone). Các quốc gia có chủ quyền (sovereign rights) được toàn quyền sở hữu, khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng này. Sự ra đời của EEZ và quyền chủ quyền là luật tối hậu, chấm dứt các yêu sách dựa vào quyền lịch sử (historic rights).

Việt Nam và các nước Ðông Nam Á khác như Philippines, Indonesia, Brunei, Indonesia chưa bao giờ yêu sách “quyền lịch sử” ở Biển Ðông, và chỉ đòi hỏi các quyền như quy định của UNCLOS. Còn chủ quyền lãnh thổ (territorial sovereignty) trên các đảo là một khái niệm pháp lý khác, không do Tòa Trọng Tài quyết định được. Như thế phán quyết của tòa PCA không liên quan gì đến sự xác nhận hay phủ nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

***

Muốn đòi lại các đảo mà Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép ở Hoàng Sa và Trường Sa, phải kiện ở một tòa án khác, Tòa Công Lý Quốc Tế ICJ (International Court of Justice) chứ không phải PCA. Hai tòa này đều dùng chung trụ sở là Lâu Ðài Hòa Bình ở thành phố The Hague, Hòa Lan, khiến người ta dễ lầm, nhưng hoàn toàn khác biệt về chức năng, thẩm quyền và phương pháp tài phán,

Không nên vội vã tiến hành vụ kiện này. Trước hết cần thu thập hết sức đầy đủ mọi bằng chứng trong quá trình tranh tụng, bao gồm cả những bằng chứng hỗ trợ và phản lại lý đoán của chúng ta.

Vụ Philippines kiện Trung Quốc kéo dài 3 năm, Philippines đã phải tập trung rất nhiều tài liệu và hồ sơ xét xử giải thích phán quyết của tòa dài tới 501 trang tiếng Anh. Thời gian ấy tuy vậy được xem như tương đối ngắn. Thời gian của một vụ tranh tụng tại tòa ICJ sẽ phải kéo dài ít nhất là trên 10 năm.

Cũng không có gì bảo đảm rằng tòa ICJ sẽ phán quyết có lợi cho Việt Nam hay cho Trung Quốc. Rất có thể tòa tuyên bố không đủ yếu tố để quyết định và nếu kháng cáo sẽ kéo dài thêm hàng chục năm nữa. Kinh nghiệm về tranh chấp chủ quyền hải đảo, như trường hợp Nhật-Trung Quốc ở quần đảo Senkaku/Ðiếu Ngư, Anh-Argentina ở Falklands/Malvinas, Nga-Nhật ở quần đảo Kuril/Chishima rettM và vô số trường hợp của các quốc gia khác đã kéo dài vô tận. Hơn nữa dù muốn dù không, quyết định của tòa ICJ bắt buộc phải cân nhắc đến các liên hệ chính trị trong hiện trạng thế giới ngày nay. Ðó là chưa kể, như đã nói trên, phán quyết của tòa ICJ không dễ sẽ được hai bên thực thi nghiêm chỉnh.

Vậy thì Việt Nam và các quốc gia Ðông Nam Á nên xem phán quyết của tòa PCA là một thắng lợi chung vì lần đầu tiên một tòa quốc tế công khai tuyên bố Trung Quốc vi phạm quy định và nghĩa vụ của UNCLOS.

Về mặt công pháp quốc tế, Trung Quốc lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, tuy nhiên nước này chắc chắn sẽ tận dụng vị thế và ảnh hưởng của họ, đặc biệt về kinh tế tài chính, để tiếp tục gây khó khăn chia rẽ các nước trong khu vực. Thái độ của ASEAN sẽ là điều kiện quan trọng trong sự đương đầu với Trung Quốc, nhưng khó có thể hy vọng một sự đoàn kết chặt chẽ giữa 10 quốc gia này, và liệu phán quyết 12 tháng 7 có góp sức cho mục tiêu ấy không?

Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)

This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s